Ngày làm việc thứ mười hai, kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV
Xem xét ba dự án Luật
Cập nhật lúc07:48, Thứ Tư, 07/06/2017 (GMT+7)

Sáng 6-6, Quốc hội (QH) họp phiên toàn thể tại hội trường nghe báo cáo về dự án Luật Thủy sản (sửa đổi).

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Nguyễn Xuân Cường trình bày Tờ trình dự án Luật Thủy sản (sửa đổi).

Lý giải về sự cần thiết xây dựng dự án Luật, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết, Luật Thủy sản được QH thông qua ngày 26-11-2003 và có hiệu lực từ ngày 1-7-2004, về cơ bản đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực thủy sản.

Nhờ đó, ngành thủy sản đã dần chuyển dịch từ nghề cá nhân dân sang nghề cá thương mại. Trong những năm qua, ngành đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đóng góp lớn vào tăng trưởng ngành nông nghiệp, cũng như nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu của nông sản Việt Nam (xuất khẩu thủy sản từ 2,2 tỷ USD năm 2003 tăng lên 7,16 tỷ USD năm 2016).

Tuy nhiên, sau 13 năm triển khai thực hiện, Luật Thủy sản 2003 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập như: Một số quy định chưa theo kịp với sự phát triển nhanh của ngành thủy sản Việt Nam. Một số quy định chưa đáp ứng được yêu cầu trong công tác cải cách hành chính của Chính phủ, trong đó có yêu cầu về tăng cường xã hội hóa các dịch vụ công, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phân cấp mạnh cho địa phương...

Một số quy định không còn phù hợp với các luật mới có liên quan đến lĩnh vực thủy sản được QH thông qua (Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai…). Một số quy định chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế, trong đó có quy định về truy xuất nguồn gốc thủy sản, quy định về chống đánh bắt bất hợp pháp, quy định về biện pháp của quốc gia có cảng...

Bên cạnh đó, sự phát triển ngành thủy sản chưa bền vững; năng lực, kinh nghiệm quản lý và đầu tư trang thiết bị phục vụ cho kiểm tra, kiểm soát các hoạt động thủy sản còn hạn chế; biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, khó lường; nguồn lợi thủy sản đang có dấu hiệu suy giảm, môi trường sống của các loài thủy sản có nguy cơ bị ô nhiễm; xu hướng gia tăng bảo hộ mậu dịch, hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu… là những thách thức lớn đối với ngành thủy sản cần phải giải quyết.

“Để khắc phục được các bất cập nêu trên, đồng thời, nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung và phát triển thủy sản nói riêng, đặc biệt là Nghị quyết 09-NQ/TW năm 2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Nghị quyết số 26-NQ/TW năm 2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn,… việc sửa đổi Luật Thuỷ sản 2003 là hết sức cần thiết”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nhấn mạnh.

Quan điểm chỉ đạo xây dựng dự án Luật là thể chế hoá chủ trương, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực thủy sản; phù hợp với chiến lược phát triển và cơ cấu lại ngành theo chuỗi giá trị, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Kế thừa những nội dung, quy định tại Luật Thủy sản 2003 đã phù hợp trong thực tiễn, các nội dung sửa đổi, bổ sung phải đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, khắc phục được những hạn chế, bất cập trong Luật Thủy sản 2003.

Bảo đảm tính phù hợp, thống nhất với Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Thích ứng với biến đổi khí hậu; đáp ứng nhu cầu phát triển, hội nhập ngày càng sâu rộng của ngành thủy sản; phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước ta ký kết hoặc gia nhập. Đáp ứng yêu cầu về cải cách hành chính; tăng cường phân cấp cho địa phương; xã hội hóa tối đa các dịch vụ công…

Dự án Luật được xây dựng với kết cấu, bố cục gồm 8 chương, 100 điều (trong đó kế thừa 12 điều, sửa đổi 50 điều, bổ sung mới 38 điều).

Báo cáo thẩm tra dự án Luật của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH cho biết quá trình xây dựng dự án Luật Thủy sản (sửa đổi) của Chính phủ trình QH đã được thực hiện đầy đủ, đúng quy trình như quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Ban soạn thảo đã tổ chức hội nghị đánh giá 3 năm, 6 năm và 13 năm thi hành pháp luật về thủy sản, đánh giá sự tác động của Luật Thủy sản đến phát triển kinh tế - xã hội và của ngành thủy sản Việt Nam; tổ chức các hội thảo đóng góp ý kiến cho dự án Luật, khảo sát tại các địa phương và nghiên cứu pháp luật về thủy sản của nhiều nước.

“Ủy ban cho rằng, dự án Luật Thủy sản (sửa đổi) đã đủ điều kiện trình QH khóa XIV xem xét, cho ý kiến. Sau kỳ họp thứ 3, với sự chỉ đạo của Ủy ban Thường vụ QH, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường sẽ phối hợp với Ban soạn thảo và các cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật”, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH Phan Xuân Dũng phát biểu.

Chiều 6-6 QH nghe báo cáo và xem xét về 2 dự án Luật là dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) và dự án Luật Cảnh vệ.

Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Nguyễn Xuân Cường, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi). Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH Phan Xuân Dũng trình bày Báo cáo thẩm tra dự án Luật này.

Tiếp đó, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của QH Võ Trọng Việt trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Cảnh vệ.

Sau khi nghe Báo cáo giải trình, QH thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Cảnh vệ. Cơ quan trình và cơ quan chủ trì thẩm tra phối hợp báo cáo, làm rõ vấn đề đại biểu QH nêu về dự án Luật Cảnh vệ.

Luật Bảo vệ và phát triển rừng có hiệu lực thi hành từ ngày 1-4-2005. Qua tổng kết 12 năm thực hiện, bên cạnh những tác động tích cực, Luật đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế cần phải sửa đổi, bổ sung.

Sau khi tiếp thu chỉnh lý, dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) gồm 12 chương, 97 điều. Các vấn đề của dự thảo Luật cần QH tiếp tục xem xét, thảo luận tại kỳ họp này bao gồm: Tên gọi của dự thảo Luật (đổi từ Luật Bảo vệ và phát triển rừng thành Luật Lâm nghiệp, Luật Tài nguyên rừng); việc sắp xếp lại bố cục của dự thảo Luật để bảo đảm tính logic, tính khoa học; làm rõ hơn phạm vi điều chỉnh của Luật, đối tượng quản lý, phân công trách nhiệm giữa các bộ, ngành trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; phân loại rừng; quản lý rừng; việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.

Sau khi tiếp thu, chỉnh lý, dự thảo Luật Cảnh vệ trình QH thông qua gồm 6 chương, 36 điều. Báo cáo giải trình, tiếp thu về dự án Luật của Ủy ban Thường vụ QH trình QH tại kỳ họp này gồm các nội dung sau: Về đối tượng cảnh vệ (Điều 10) được giữ nguyên như dự thảo Luật Chính phủ trình, về lực lượng cảnh vệ (Điều 16), về quyền hạn của Tư lệnh Bộ Tư lệnh cảnh vệ, Cục trưởng Cục Bảo vệ An ninh quân đội, cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ (Điều 20), về quy định nổ súng khi thi hành nhiệm vụ (Điều 21), về huy động người, phương tiện để thực hiện công tác cảnh vệ (Điều 22).

Luật Cảnh vệ còn có một số nội dung khác, như: Phạm vi điều chỉnh (Điều 1), đối tượng áp dụng (Điều 2), giải thích từ ngữ (Điều 3), về vị trí, chức năng của lực lượng cảnh vệ (Điều 4), về nguyên tắc công tác cảnh vệ (Điều 5), chính sách đối với lực lượng cảnh vệ và công tác cảnh vệ (Điều 6), hợp tác quốc tế trong công tác cảnh vệ (Điều 8), các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 9), các biện pháp và chế độ cảnh vệ (Điều 11, Điều 12, Điều 13 và Điều 14), về quyền và trách nhiệm của người là đối tượng cảnh vệ (Điều 15), điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn người vào lực lượng cảnh vệ (Điều 17), về nhiệm vụ của lực lượng cảnh vệ (Điều 18), nghĩa vụ, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ (Điều 19), về chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ (Điều 23), trách nhiệm của Chính phủ (Điều 24), trách nhiệm của Bộ Công an (Điều 25),  trách nhiệm của Bộ Quốc phòng (Điều 26), trách nhiệm của công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác cảnh vệ (Điều 29)./.

PV

,
,
.
,
,
,
,