Ngày làm việc thứ tám, thứ chín, kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV
Tiếp tục thảo luận về kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước
Cập nhật lúc07:49, Thứ Sáu, 03/11/2017 (GMT+7)

Thứ tư, ngày 1-11, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chủ trì. Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển điều hành phiên họp. Quốc hội tiếp tục thảo luận về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước năm 2017; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, dự toán ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách Trung ương năm 2018 và kế hoạch tài chính - ngân sách Nhà nước 3 năm quốc gia 2018-2020.

Trong quá trình thảo luận, 38 đại biểu Quốc hội đã phát biểu, 8 đại biểu tranh luận.

Các vị đại biểu Quốc hội tiếp tục phân tích, đánh giá thực trạng, những bài học trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách Nhà nước năm 2017 và phương hướng, giải pháp cho năm 2018, đi sâu một số nội dung:

- Thực trạng và các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng; vai trò của chính sách khoa học, công nghệ; khuyến khích đầu tư xã hội cho nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt công nghệ cao trong nông nghiệp, công nghiệp chế tạo và quản lý Nhà nước;

- Các giải pháp bảo đảm cân đối ngân sách Nhà nước; thực hiện hiệu quả đầu tư công trung hạn; gắn kết giải pháp tài chính với mục tiêu tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế;

- Phát triển kết cấu hạ tầng, chiến lược logistic; phát triển giao thông đường sắt, giao thông nông thôn; giám sát chất lượng các công trình xây dựng; giải pháp đối với các dự án, công trình thua lỗ;

- Phát triển nông nghiệp hữu cơ, các sản phẩm nông nghiệp chủ lực; phát triển thị trường trong nước và khuyến khích xuất khẩu; chất lượng sản phẩm nông nghiệp, an toàn thực phẩm;

- Chính sách an sinh xã hội; gắn đào tạo với thị trường lao động; vấn đề chăm sóc sức khỏe, BHYT; chính sách giảm nghèo bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển nông thôn - thành thị; chính sách đối với liệt sĩ và người có công; chế độ BHXH và hưu trí;

- Xây dựng xã hội học tập; vấn đề đạo đức học đường; chính sách đối với giáo viên; chăm sóc và bảo vệ trẻ em;

Đại biểu Đặng Thị Phương Thảo, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nam Định. Ảnh: ĐBND
Đại biểu Đặng Thị Phương Thảo, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nam Định.
Ảnh: ĐBND

- Chiến lược bảo vệ môi trường và vấn đề môi trường ở các khu công nghiệp; công tác dự báo và phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu;

- Thực trạng và giải pháp trong các lĩnh vực văn hóa, du lịch; bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa;

- Vấn đề cải cách hành chính gắn với xây dựng Chính phủ kiến tạo, tinh giản bộ máy; công tác cán bộ, công chức, viên chức, cải cách tiền lương;

- Vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh; kết hợp kinh tế với quốc phòng; phòng, chống tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội…

Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh; Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Nguyễn Xuân Cường; Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến và Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

Giải trình ý kiến các đại biểu Quốc hội về tình hình buôn lậu, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết không chỉ thuốc lá mà nhiều mặt hàng khác có lợi nhuận cao đều là điểm nóng buôn lậu do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Theo Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, nguyên nhân của thực trạng này là do: Thứ nhất, khuôn khổ pháp lý, chính sách chưa đủ mạnh nên dẫn đến nhờn luật. Các đối tượng cấu kết tinh vi, có hệ thống, không giới hạn trong một vài địa phương nữa.

Thứ hai, sự phối hợp trong chủ động của các lực lượng liên ngành còn chưa chặt chẽ và thường xuyên nên hiệu quả đấu tranh còn yếu. Như đại biểu Nguyễn Sỹ Cương nêu có thời gian vắng bóng lực lượng chức năng trong chống buôn lậu.

Thứ ba, đứt khúc và phân khúc trong chỉ đạo chống buôn lậu của các lực lượng, trong đó có quản lý thị trường (QLTT). Do QLTT hoạt động tại địa phương, với sự chỉ đạo của địa phương nên sự phối hợp chưa hiệu quả. 

Con số thống kê 9 tháng năm 2017 cho thấy buôn lậu và tiêu thụ thuốc lá lậu đã giảm hẳn, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội cũng như Long An… Thực tế vẫn còn tình trạng buôn lậu lớn nhưng ở những trung tâm buôn lậu lớn thì đã có sự tiến triển.

Theo Bộ trưởng, có 3 nhiệm vụ lớn cần tập trung: Tăng cường hơn nữa việc phối hợp các lực lượng chuyên ngành để đấu tranh chống buôn lậu, phát huy trách nhiệm từng lực lượng; xem xét hoàn chỉnh khung khổ pháp lý, thể chế, tăng chế tài; có quan điểm đồng bộ, toàn diện nhất quán, nghiêm khắc xử lý hành vi buôn lậu thuốc lá.

Bộ trưởng dẫn chứng, câu chuyện tái xuất thuốc lá lậu, Thủ tướng và các bộ, ngành đã không chấp nhận cho tái xuất vì lợi ích mang lại không bao nhiêu nhưng nguy cơ thẩm lậu cao. Vừa qua, nhiều hoạt động tái xuất thuốc lá lậu có dấu hiệu thẩm lậu trở lại nội địa. Phiên họp tháng 6-2017, Thủ tướng đã chỉ đạo các lô hàng thuốc lá lậu tịch thu thì phải tiêu hủy chứ không tái xuất, trừ trường hợp đặc biệt phải báo cáo Thủ tướng.

“Ngoài ra, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng QLTT còn yếu kém. Giải pháp cơ bản đã được Chính phủ cho phép là thành lập Tổng cục QLTT theo hệ thống ngành dọc. Đây là cơ sở quan trọng để chúng ta có điều kiện tăng cường chất lượng, nâng cao phẩm chất của cán bộ QLTT. Bộ Công thương sẽ có điều kiện đáp ứng nhiệm vụ đấu tranh chống buôn lậu thời gian tới”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nói.

Liên quan đến 12 dự án nghìn tỷ tồn đọng cần xử lý

Bộ trưởng Công thương cho biết: 12 dự án này nội dung rất phức tạp, trải qua nhiều thời kỳ, giai đoạn khác nhau. Phần lớn đều có nguyên nhân cả chủ quan và khách quan. Để xử lý, phải làm đồng bộ, đánh giá toàn diện hệ thống những vấn đề tồn tại, vướng mắc.

Trong 2 năm qua, Chính phủ đã thành lập những Ban chỉ đạo để đánh giá tổng thể, kết hợp với kiểm tra thực tế tại các dự án, đưa ra hướng giải quyết. Ban hành các hướng dẫn cụ thể để giải quyết về mặt thương mại, công nghệ, xử lý triệt để vi phạm pháp luật của cá nhân và tổ chức. Từ bài học kinh nghiệm này cần ngăn chặn phát sinh những dự án không có hiệu quả tương tự.

“Bộ Chính trị đã thống nhất năm 2017 hoàn thành các bước chuẩn bị để triển khai xử lý. Năm 2018 xử lý về cơ bản và đến 2020 sẽ giải quyết triệt để toàn bộ các dự án. Hiện nay, có 4 dự án phân bón đã khôi phục sản xuất, đang tiếp cận thị trường. 3 dự án xăng sinh học đang khởi động lại, 2018 sẽ tham gia thị trường…”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho hay.

Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ

Thực tế, quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam thời gian qua đã có những bước đi nhất định, đạt được những nền tảng cơ bản, mang lại đóng góp cho sự phát triển kinh tế.

Theo Bộ trưởng, trong một số ngành công nghiệp đã tạo được nền tảng cho Việt Nam tiếp tục phát triển theo hướng công nghiệp hóa như trong ngành khai khoáng, chế biến chế tạo, hóa dược, năng lượng… Tuy nhiên, ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) thì còn hạn chế. 

Thực tế, ngành CNHT trong một số ngành công nghiệp chính đã có những bước tiến, như trong ngành dệt may, tỷ lệ nội địa hóa đã đạt trên 40%, da giày trên 45%, ô tô 30-40%... Điều đó cho thấy dù chưa đạt như mong đợi nhưng một số cơ sở ban đầu đã được thiết lập. Từ đó, chúng ta có điều kiện để phát huy thời gian tới.

Nguyên nhân được Bộ trưởng nêu là do: cơ chế chính sách chưa đồng bộ về tín dụng, ưu đãi, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực; chưa tham gia được vào các chuỗi để đảm bảo tính bền vững, đảm bảo đầu ra cho doanh nghiệp CNHT...

Tới đây, các lĩnh vực công nghiệp ô tô, dệt may, điện lực, năng lượng sẽ tạo ra sự dẫn dắt hình thành thị trường để ngành CNHT có thể phát triển thời gian tới.

Về điện lưới nông thôn

Đến năm 2020, 100% nhân dân phải được sử dụng điện lưới. Đây là nhiệm vụ lớn vì đầu tư điện cho khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo rất khó khăn.

Bộ trưởng cho biết: Đã có 48 địa phương tham gia chương trình xây dựng điện lưới cho khu vực khó khăn với số lượng 11 đảo, 189 xã, thôn bản với quy mô hơn 1 triệu hộ dân. Hiện, một nửa trong số đó đã có điện nhưng chưa chính thức, chưa có công tơ và không đảm bảo an toàn.

Dự án cần hơn 30 nghìn tỷ đồng, phân bổ từ vốn ngân sách Trung ương và vốn địa phương, các tổ chức tài trợ quốc tế (ADB, EU). Hiện đã có báo cáo khả thi trình lên Thủ tướng, chờ Thủ tướng phê duyệt.

“Dự kiến tháng 12 năm nay sẽ ký hợp đồng với EU để có nguồn vốn cho chương trình. Còn nguồn vốn ngân sách Trung ương thì Bộ KH và ĐT đã cố gắng bố trí nhưng chưa đảm bảo yêu cầu. Chúng tôi đang huy động nguồn vốn từ Tập đoàn Điện lực để hỗ trợ các địa phương”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết.

Bộ trưởng NN và PTNT Nguyễn Xuân Cường đã giải trình, làm rõ những vấn đề nóng của ngành nông nghiệp được các đại biểu Quốc hội quan tâm, đặc biệt là về tái cơ cấu nông nghiệp.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường khẳng định, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp hiện có rất nhiều áp lực, trong đó phải đảm bảo hai mục tiêu: thích ứng với biến đổi khí hậu và thích ứng với thị trường.

Theo Bộ trưởng, 2 năm vừa qua, diễn biến khí hậu ngày càng cực đoan hơn, gay gắt hơn, bất thường hơn cả dự báo, gây tổn hại lớn đến kinh tế - xã hội. Do đó, tái cơ cấu nông nghiệp phải coi mục tiêu thích ứng với biến đổi khí hậu là nguyên tắc hàng đầu.

Thứ hai, tái cơ cấu cũng phải đảm bảo tính thích ứng với thị trường vì sản xuất của chúng ta không chỉ thỏa mãn nhu cầu trong nước mà còn hướng đến xuất khẩu.

“Nông sản Việt Nam đã được xuất khẩu đến 180 nước, với giá trị xuất khẩu 30 tỷ USD, năm nay dự kiến đạt 35 tỷ USD. Cần phải xác định mặt hàng thế mạnh có chất lượng và giá phù hợp thì mới cạnh tranh được, nếu không thì thua ngay trên sân nhà”, Bộ trưởng cho hay.

Cũng theo Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, nếu tập trung quyết liệt thì hoàn toàn có thể tái cơ cấu thành công. Tình trạng biến đổi khí hậu cũng tạo ra những dư địa mới, có thể mang lại sức cạnh tranh. Ví dụ, đồng bằng sông Cửu Long trước đây chú trọng ưu tiên vào lúa gạo, thủy sản, trái cây, nay chuyển sang thứ tự thủy sản, trái cây và lúa gạo để thích nghi với biến đổi khí hậu. 

“Ngành thủy sản vẫn có thể phát triển dù biến đổi khí hậu. Thế giới có 7 tỷ người, nếu mỗi người ăn 1kg tôm thì nhu cầu là 7 triệu tấn nhưng nguồn cung hiện chỉ đạt 5 triệu tấn, dư địa xuất khẩu rất nhiều”, Bộ trưởng dẫn chứng.

Theo Bộ trưởng, cần tập trung vào những khâu yếu nhất của từng ngành hàng để tập trung khắc phục, xây dựng sản phẩm quốc gia. Ví dụ, 5.000ha nuôi cá tra cho sản lượng 1,3 triệu tấn nhưng khâu giống và chế biến sản phẩm còn yếu thì phải tập trung đầu tư.

“Ngoài sản phẩm quốc gia, chúng ta có sản phẩm cấp tỉnh, có tính quy mô, mang đặc trưng vùng miền, địa phương như xoài Cao Lãnh, cam Cao Phong, hoa Đà Lạt, nhãn lồng Hưng Yên. Ví dụ như Bắc Giang cũng thu 5.000 tỷ đồng từ vải thiều, gần 1.000 tỷ đồng từ na… Chọn đúng sản phẩm chủ lực giúp tỉnh này thu về 500 triệu USD”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết. 

Ngoài ra, chúng ta có chương trình Mỗi làng một sản phẩm, mỗi khu vực lân cận lại có một sản phẩm. Như Quảng Ninh đã đưa ra trên 200 sản phẩm chất lượng cao, một số sản phẩm có thể xuất khẩu được.

Về quản lý phân bón, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết, đến nay cả nước có trên 14 nghìn sản phẩm phân bón, 96% là phân bón vô cơ. Sản lượng gấp 3 lần nhu cầu. Về lâu dài, Bộ trưởng cho rằng, cần phải tăng sản phẩm phân hữu cơ vì mục tiêu nền nông nghiệp sạch, giảm phân vô cơ.

Chiều 1-11, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến có phần giải trình kéo dài hơn 10 phút về những vấn đề của ngành được đại biểu Quốc hội quan tâm.

Theo Bộ trưởng Y tế, số ca mắc sốt xuất huyết năm nay tăng 46% so với năm ngoái. Phân bổ theo khu vực, nhiều nhất vẫn là khu vực phía Nam, nhưng nặng nề nhất là tại Hà Nội.

Bộ trưởng Y tế nêu nguyên nhân dịch bệnh kéo dài, hiệu quả dập dịch thấp do biến đổi khí hậu, nắng kéo dài, mưa nhiều. Bên cạnh đó có nguyên nhân từ di cư, vệ sinh môi trường nơi ở của công nhân xây dựng, người nhập cư là nguyên nhân khiến muỗi sinh đẻ. Nguyên nhân nữa là ý thức bảo vệ môi trường, phòng chống dịch bệnh chưa cao.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, có thể trong thời gian tới chúng ta sẽ đương đầu với những bệnh dịch khác nên cần quan tâm tới vấn đề phòng bệnh, bảo đảm vệ sinh môi trường, nâng cao sức khỏe, thể lực; hoàn thiện hệ thống thể chế; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ; quyết liệt trong triển khai công tác phòng chống dịch bệnh...

Về vấn đề chậm thanh toán BHYT, Bộ trưởng thông tin: Hiện đã có 82% người dân có thẻ BHYT, từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Điều chỉnh giá BHYT đã giúp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, Nhà nước không phải chi nhiều tiền. 

Tuy nhiên, do công tác thông tuyến, kỹ thuật cao được áp dụng đến tuyến tỉnh, tuyến huyện, ý thức bảo vệ sức khỏe của người dân tăng lên... nên nhiều địa phương đã bội chi quỹ BHYT.

Đầu năm 2016 kết dư BHYT theo báo cáo là 47 nghìn tỷ đồng. “Kết dư nhiều vậy thì tốt hay không tốt? Không tốt vì đây là quỹ ngắn hạn người dân đóng thì phải được hưởng hết hằng năm trừ khi có dự phòng. Quỹ còn chứng tỏ người dân chưa được hưởng các dịch vụ tốt, chưa hưởng được dịch vụ kỹ thuật cao, thể hiện nền kinh tế không công bằng nhất là khu vực vùng sâu, vùng xa. Nhưng cũng có cái tốt là cuối 2016, đầu 2017 chúng ta điều chỉnh giá dịch vụ y tế về giá trị thực thì mới có nguồn kết dư đó. Nguồn kết dư đó dự kiến chỉ đủ dùng đến hết 2019 nếu giá duy trì như hiện nay”, Bộ trưởng cho biết.

Từ thực tế này, Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho hay chưa vỡ quỹ ngay nhưng có nguy cơ. Tương lai xa có thể điều chỉnh mệnh giá mua BHYT vì mệnh giá hiện nay rất thấp, trong khi người dân được hưởng khá rộng.

Về giải pháp, hạn chế việc người dân sử dụng các dịch vụ BHYT không phù hợp, ngăn chặn tình trạng trục lợi, có điều tra, khảo sát, xử nghiêm vi phạm.

“Bộ Y tế và BHXH đảm bảo sẽ phối hợp để duy trì khám chữa bệnh cho người dân và không vỡ quỹ”, Bộ trưởng khẳng định.

Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng kết thúc phiên làm việc của Quốc hội chiều 1-11 bằng phần báo cáo giải trình thu, chi, bội chi ngân sách Nhà nước.

Theo Bộ trưởng Tài chính, các đại biểu Quốc hội có ý kiến về thu ngân sách Nhà nước xoay quanh các vấn đề: Tăng trưởng GDP đạt 6,7% nhưng tại sao ngân sách Nhà nước chỉ tăng thu 2,3% so với dự toán? Vì sao tăng trưởng GDP cải thiện nhưng quy mô thu ngân sách Nhà nước tính trên GDP giảm? Vì sao thu từ 3 khu vực kinh tế lớn không đạt? Tại sao thu ngân sách Nhà nước khó khăn?...

Bộ trưởng giải trình: Về bản chất, ngân sách Nhà nước là thước đo quan trọng phản ánh sự phát triển và hiệu quả của nền kinh tế. Kết quả thu ngân sách Nhà nước chịu ảnh hưởng cả từ yếu tố tích cực và hạn chế, yếu kém của nền kinh tế. Trong điều kiện tăng trưởng kinh tế, lạm phát đạt kế hoạch thì thu ngân sách vượt 2,3% là tích cực.

So với năm 2016 thì thu ngân sách Nhà nước tăng hơn 10%. Trong đó, thu nội địa từ hoạt động sản xuất tăng trên 14% cũng là tích cực, bù cho nguồn thu giảm do cắt giảm thuế và giảm giá, sản lượng dầu thô. Mức tăng này cao hơn nhiều tăng trưởng kinh tế và lạm phát.

Mặc dù tổng thể thu ngân sách Nhà nước vượt nhưng thu từ 3 khu vực chính là: kinh tế Nhà nước, doanh nghiệp FDI và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chưa đạt 100% do có nguyên nhân khách quan, chủ quan. Khách quan do dự toán giao rất cao so với năm 2016, cao hơn nhiều so với GDP và lạm phát cộng lại. Vì vậy, dù không đạt nhưng đây là mức tích cực so với năm 2016, trong đó thu từ khu vực FDI dự kiến tăng 16,9% so với 2016.

Về nguyên nhân chủ quan, nhiều doanh nghiệp vẫn khó khăn, cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước và tổ chức tín dụng còn chậm. Tình hình các doanh nghiệp ô tô, khai khoáng... rất khó khăn. Kể cả Samsung và Formosa, hai doanh nghiệp lớn nhưng thu ngân sách không tăng nhiều do đang được hưởng ưu đãi.

Bộ trưởng Tài chính cho biết: Thu ngân sách từ dầu thô từng chiếm đến 20% tổng thu ngân sách Nhà nước giai đoạn 2006-2010 nhưng thời gian qua giảm nhiều do giá dầu thô ổn định ở mức thấp, khai thác giảm. Năm 2017 dự kiến chỉ chiếm hơn 3% trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Thực tế, đánh giá thu từ dầu thô tăng 5,2 nghìn tỷ đồng do sản lượng tăng 1 triệu tấn và giá bán tăng. 

Về các ý kiến cho rằng, tỷ lệ thu ngân sách Nhà nước trên GDP của Việt Nam cao thứ 3, sau Nhật và Trung Quốc, tỷ lệ huy động thuế phí cao hơn Thái Lan, Ma-lai-xi-a và đề nghị xem xét điều chỉnh chính sách thuế, Bộ trưởng khẳng định tỷ lệ huy động ngân sách của Việt Nam không phải quá cao.

Cụ thể tỷ lệ huy động ngân sách Nhà nước là 23,9% GDP, trong đó từ thuế, phí có 19,7%. Trong khi đó, theo báo của của IMF tháng 10-2017, tỷ trọng thu ngân sách Nhà nước/GDP của các nước Liên minh châu Âu là 44,3%, các nước mới nổi và phát triển ở châu Á là 25,5%, Ấn Độ 21,3%, Thái Lan 22,4%...

Theo ông Đinh Tiến Dũng, khi so sánh số liệu thu ngân sách Nhà nước của các nước, cần chú ý đến đảm bảo so sánh dựa trên tiêu chí đồng nhất, cùng bản chất. Ví dụ số thu ngân sách Nhà nước của nhiều nước chỉ tính trên số thu của chính quyền Trung ương trong khi số liệu Việt Nam bao gồm cả 4 cấp ngân sách. Phạm vi thu của Việt Nam gồm cả dầu thô, bán nhà sở hữu Nhà nước, trong khi nhiều nước không tính nó vào nguồn thu từ thuế và phí như Trung Quốc. 

“Mỗi nước lại đánh sắc thuế phụ thuộc vào chiến lược từng quốc gia và thời kỳ. Thuế của Việt Nam thuộc mức trung bình thấp so với các nước khu vực, thế giới”, Bộ trưởng nhận định.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cơ bản nhất trí với ý kiến các đại biểu Hoàng Quang Hàm (Phú Thọ), Nguyễn Hữu Toàn (Lai Châu)... về việc phải xem xét có những điều chỉnh chính sách thu thuế hợp lý, siết chặt các ưu đãi về thuế, chấn chỉnh chính sách quản lý thu, ngăn tình trạng chuyển giá, trốn thuế, nợ đọng thuế... Bộ Tài chính hoàn thiện sớm trình Quốc hội 5-6 luật thuế trong năm 2018.

Sáng 2-11, đại biểu Trần Anh Tuấn (TP Hồ Chí Minh), Bùi Văn Xuyền (Thái Bình); Nguyễn Lân Hiếu (An Giang); Nguyễn Thái Học (Phú Yên); Nguyễn Bá Sơn (Đà Nẵng); Đinh Duy Vượt (Gia Lai); Nguyễn Trường Giang (Đắk Nông); Trần Thị Hằng (Bắc Ninh); Phạm Tất Thắng (Vĩnh Long); Dương Minh Ánh (Hà Nội); Nguyễn Tiến Sinh (Hòa Bình); Nguyễn Anh Trí (Hà Nội); Dương Trung Quốc (Đồng Nai); Trương Trọng Nghĩa (TP Hồ Chí Minh); Triệu Tài Vinh (Hà Giang)... tham luận về các nội dung liên quan đến cơ cấu kinh tế; các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2018; chấn chỉnh các dự án BT, BOT, đảm bảo công khai, minh bạch, bảo đảm hài hòa lợi ích nhà đầu tư, Nhà nước và người dân; tái cơ cấu nông nghiệp và NTM; khám chữa bệnh BHYT; nâng cao hiệu quả xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật; nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, xử lý nghiêm cán bộ vi phạm; phát triển công nghiệp, văn hóa, quản lý lễ hội, phát triển du lịch; quy hoạch lại các đơn vị nghệ thuật, bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống, chăm lo cho đời sống nghệ sĩ các đơn vị nghệ thuật truyền thống; chấn chỉnh tình trạng phí chồng phí, lạm thu trong trường học, tình trạng lạm thu ở các cấp cơ sở; giải pháp ngăn chặn tình trạng suy thoái văn hóa, mất lòng tin của người dân vào chính quyền; phát huy dân chủ, củng cố niềm tin, phát huy tổng thể nguồn lực nội tại để phát triển bền vững; tiêu chí phân bổ ngân sách; phân cấp đầu tư; giải pháp bảo tồn, duy trì, phát huy bản sắc dân tộc thiểu số,...

Trong buổi sáng, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình báo cáo Quốc hội vụ doanh nghiệp Thuận Phong (Đồng Nai), cho biết vụ án đang được các cơ quan chức năng địa phương tiếp tục điều tra. Trách nhiệm hiện nay thuộc về các cơ quan tư pháp. Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đề nghị các đại biểu chờ kết luận của cơ quan điều tra.

Cuối giờ sáng 2-11, trước khi kết thúc phiên thảo luận về kinh tế - xã hội và ngân sách của Quốc hội, thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã báo cáo làm rõ thêm nhiều vấn đề, trọng tâm là tăng trưởng kinh tế và phòng chống thiên tai.

Theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, năm 2017, mục tiêu đặt ra là tăng trưởng khoảng 6,7%. Trong quá trình thực hiện, chúng ta có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, đặc biệt là tình hình thiên tai xảy ra liên tiếp ở nhiều địa phương. 

 Tinh thần chỉ đạo xuyên suốt của Chính phủ là tập trung cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm huy động tối đa nguồn lực cho phát triển; đồng hành cùng doanh nghiệp, tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng.

Đến nay, nhờ sự nỗ lực của các ngành, các cấp, môi trường kinh doanh của nước ta đã được cải thiện đáng kể, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Trong đó, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia 2017-2018 của Việt Nam tăng 5 bậc, lên thứ 55/137 quốc gia, vùng lãnh thổ. 

Ngân hàng Thế giới (WB) cũng vừa công bố xếp hạng về môi trường kinh doanh năm 2018 của Việt Nam tăng 14 bậc, lên vị trí 68/190 quốc gia, vùng lãnh thổ. Hãng đánh giá tín nhiệm quốc tế Moody’s nâng mức tín nhiệm của Ngân hàng Việt Nam lên tích cực. "Đây là những tín hiệu rất mừng của việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh" - Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nói.

Năm 2017, có nhiều yếu tố ảnh hưởng rất bất lợi cho tăng trưởng kinh tế như ngành khai khoáng giảm mạnh (9 tháng ngành khai khoáng giảm 8,1%). Riêng ngành dầu khí giảm 10,7% so với 2016, năm 2017 chỉ dự kiến khai thác 13,25 triệu tấn dầu, giảm 2 triệu tấn so với 2016, giảm 3 triệu tấn so với năm 2015.

Tính theo giá so sánh năm 2010, mỗi triệu tấn dầu đóng góp 0,25% điểm GDP, như vậy so với 2 năm trước, riêng dầu khí đã giảm 0,75% GDP. 

Trước diễn biến như vậy, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có rất nhiều biện pháp quyết liệt nhằm đảm bảo giữ vững chỉ tiêu tăng trưởng. Tại sao phải làm như vậy?

Theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng có ý nghĩa hết sức quan trọng. Có tăng trưởng mới duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế cũng như tạo việc làm, thu nhập và bảo đảm an sinh xã hội.

Cùng với đó, việc đảm bảo chỉ tiêu tăng trưởng cũng sẽ giúp đảm bảo chỉ tiêu an toàn nợ công, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu ngân sách, đảm bảo các mục tiêu chi, đầu tư xây dựng. Từ đó, đời sống người dân cũng sẽ được phát triển. Tăng trưởng cao hơn cũng giúp Việt Nam dần rút ngắn khoảng cách so với các quốc gia trong khu vực và thế giới.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng các kịch bản hằng quý cho từng ngành, lĩnh vực. Đặc biệt là rà soát cụ thể đối với 31 sản phẩm chủ lực. Đồng thời, yêu cầu các bộ quản lý ngành, lĩnh vực kinh tế tập trung tháo gỡ khó khăn, phát triển sản xuất, kinh doanh. Nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước, tăng trưởng kinh tế đạt kết quả tích cực. 9 tháng đạt 6,41%, ước cả năm đạt 6,7%.

Trong đó, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng khẳng định rõ, đạt được kết quả này là nhờ tăng trưởng khá đồng đều ở cả 3 khu vực công nghiệp - nông nghiệp và dịch vụ.

Cụ thể, khu vực nông nghiệp 9 tháng tăng 2,78%, gấp hơn 4 lần cùng kỳ; trong đó thủy sản tăng 5,42%; xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước cả năm đạt 35 tỷ USD.

Khu vực công nghiệp và xây dựng 9 tháng tăng 7,17%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng mạnh 12,77%. Trong tháng 10, chỉ số sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng mạnh, đạt 17%. Tính chung 10 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,7%, cao hơn nhiều so với cùng kỳ (7,3%). 

Khu vực dịch vụ 9 tháng tăng 7,25%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng tăng 10,7% (cùng kỳ tăng 9,3%; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,4%, cùng kỳ tăng 9%). Kinh tế du lịch tăng mạnh, khách quốc tế đạt trên 10,4 triệu lượt, tăng 28,1%.

Xuất khẩu tăng mạnh, 10 tháng đạt 173,7 tỷ USD, gần bằng tổng xuất khẩu năm 2016, tăng 20,7% (trong đó rau quả tăng 42,7%, điện tử, máy tính tăng 38,8%, điện thoại tăng 28,8%, máy móc, thiết bị, phụ tùng tăng 28%...); xuất siêu 1,23 tỷ USD... Cùng với đó, tổng đầu tư xã hội cũng tăng hơn so với cùng kỳ, đạt 33,9% GDP.

"Như vậy, kết quả tăng trưởng đạt được không phải chỉ phụ thuộc vào một số ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp, mà chúng ta thấy rõ đóng góp của tất cả các ngành, lĩnh vực. Đặc biệt, khi ngành khai khoáng giảm mạnh, nhưng chúng ta vẫn đạt mục tiêu tăng trưởng. Đây là lần đầu tiên nền kinh tế tăng trưởng không phụ thuộc vào tăng trưởng của khai khoáng. Điều này cho thấy, chất lượng của nền kinh tế đang ngày càng được cải thiện, đồng thời cho thấy việc tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng đã đạt được những kết quả quan trọng" - Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh.

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng thừa nhận, chất lượng tăng trưởng còn thấp, chỉ số ICOR (hiệu quả vốn đầu tư) cao so với giai đoạn trước và những nước trong khu vực; ứng dụng công nghệ cao còn thấp, gia công còn nhiều, giá trị gia tăng nhiều ngành, lĩnh vực, sản phẩm chưa cao; năng suất lao động thấp; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng còn chậm ở nhiều ngành, lĩnh vực. 

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, đặc biệt là triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5; tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước, Chính phủ đã, đang và sẽ tiếp tục tập trung chỉ đạo đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nhất là tái cơ cấu nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng NTM, thích ứng với biến đổi khí hậu, các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, du lịch theo tinh thần các nghị quyết của Đảng, Quốc hội. 

Trong đó, tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ, trước hết là tiếp tục thực hiện các giải pháp hoàn thiện thể chế liên quan đến các lĩnh vực, tạo dựng môi trường đầu tư kinh doanh tốt hơn. Cùng với đó, rà soát, cập nhật, điều chỉnh, bổ sung chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm...

Về phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho biết, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng và tác động nặng nề nhất bởi thiên tai và biến đổi khí hậu, đặc biệt là bão lũ, hạn hán và xâm nhập mặn. Trung bình mỗi năm, thiên tai làm chết và mất tích trên 300 người, thiệt hại về kinh tế từ 1-1,5% GDP (tương đương khoảng gần 1,3 tỷ USD).

"Từ đầu năm đến nay, bão và áp thấp nhiệt đới đã làm 245 người chết và mất tích, thiệt hại khoảng 36 nghìn tỷ đồng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống người dân các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ".

Thời gian tới, Chính phủ tập trung chỉ đạo hoàn thiện Chiến lược quốc gia phòng chống giảm nhẹ thiên tai, lấy phòng ngừa là chính. Lồng ghép phòng chống thiên tai trong quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tránh làm gia tăng nguy cơ rủi ro thiên tai.

Nâng cao năng lực ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu; thực hiện tốt Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh. Xây dựng bản đồ phân bố dân cư; rà soát, di dời các khu dân cư nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở, lũ quét hoặc có phương án sơ tán khi có thiên tai..., đặc biệt là các tỉnh miền núi và đồng bằng sông Cửu Long. Cùng với đó phải cân đối nguồn lực để triển khai thực hiện...

Buổi chiều, Quốc hội thảo luận về việc lùi thời điểm triển khai áp dụng chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa mới tại Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28-11-2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông./.

PV

,
,
.
,
,
,
,