Bài phát biểu của đồng chí Phạm Đình Nghị, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh tại kỳ họp
Cập nhật lúc17:15, Thứ Năm, 11/07/2019 (GMT+7)

Kính thưa:   

- Chủ tọa kỳ họp;

- Các vị đại biểu Quốc hội, các vị đại biểu HĐND tỉnh và các vị đại biểu tham dự kỳ họp;

- Thưa toàn thể nhân dân.

Trước hết, thay mặt UBND tỉnh, tôi trân trọng cảm ơn các vị đại biểu HĐND tỉnh đã đánh giá, ghi nhận sự nỗ lực, cố gắng của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân về những kết quả đã đạt được trong 6 tháng đầu năm 2019. Đồng thời các đại biểu cũng chỉ ra những khó khăn, tồn tại, hạn chế; tôi xin tiếp thu và làm rõ hơn một số nội dung trong báo cáo và đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong 6 tháng cuối năm 2019.

I. MỘT SỐ KẾT QUẢ TRONG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019:

Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 trong bối cảnh kinh tế - xã hội của cả nước tiếp tục ổn định và phát triển; khí hậu biến đổi bất thường, nhiệt độ cao, nắng nóng kéo dài; dịch tả lợn châu Phi diễn biến phức tạp, lây lan nhanh trên diện rộng, số lượng lợn bị tiêu hủy lớn nhất từ trước đến nay đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Song, dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, sự giám sát của HĐND tỉnh, các đại biểu HĐND tỉnh; sự phối hợp của các ban, cơ quan của Đảng, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp và đặc biệt là sự giám sát, ủng hộ của cử tri và nhân dân, kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2019 của tỉnh tiếp tục ổn định và phát triển. Tổng sản phẩm GRDP tăng 8,25% so với cùng kỳ, đây là mức tăng cao nhất từ đầu nhiệm kỳ; Nam Định là một trong những tỉnh dẫn đầu toàn quốc về xây dựng nông thôn mới; thu hút đầu tư đạt kết quả khá; các công trình trọng điểm được tập trung thực hiện; lĩnh vực văn hóa, xã hội tiếp tục được duy trì và phát triển; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Cụ thể trên một số lĩnh vực như sau:

1. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới: Đến nay, toàn tỉnh đã có 100% xã, thị trấn đạt chuẩn nông thôn mới; 10/10 huyện, thành phố đạt chuẩn nông thôn mới và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (8 huyện, thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận, 2 huyện Mỹ Lộc, Nam Trực đã được Hội đồng thẩm định Trung ương bỏ phiếu, nhất trí 100% và đang trình Thủ tướng Chính phủ ra quyết định công nhận); như vậy tỉnh ta về đích nông thôn mới trước một năm rưỡi so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đề ra. Triển khai thực hiện Đề án xây dựng thí điểm mô hình huyện Hải Hậu nông thôn mới kiểu mẫu “sáng - xanh - sạch - đẹp” giai đoạn 2019-2025; tiếp tục triển khai thực hiện theo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2018-2020 và xây dựng các mô hình nông thôn mới kiểu mẫu.

2. Về công tác quy hoạch:

Đã phê duyệt và công bố quy hoạch chung đô thị Rạng Đông đến năm 2040; quy hoạch chung đô thị mới thuộc địa phận 4 xã Yên Bằng, Yên Quang, Yên Hồng, Yên Tiến huyện Ý Yên đến năm 2035. Tiếp tục triển khai các bước lập quy hoạch chung xây dựng khu chức năng phía Nam đô thị Rạng Đông đến năm 2040. Lập Chương trình phát triển đô thị tỉnh Nam Định đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030. Đang triển khai các bước để điều chỉnh tổng thể quy hoạch chung xây dựng Thành phố Nam Định đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050...

3. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp - thu hút đầu tư; triển khai thực hiện các công trình trọng điểm:

Sản xuất công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng 14% so với cùng kỳ. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Khu công nghiệp Dệt may Rạng Đông và nhà máy xử lý nước thải trong khu công nghiệp để thu hút các nhà đầu tư thứ cấp. Tập đoàn ToRay Nhật Bản dự kiến đầu tư vào Khu công nghiệp Dệt may Rạng Đông với tổng vốn đầu tư 180 triệu USD. Đang làm thủ tục để đầu tư xây dựng Khu công nghiệp Mỹ Thuận huyện Mỹ Lộc. Hoàn thành các thủ tục để giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng Cụm công nghiệp Yên Dương huyện Ý Yên, Cụm công nghiệp Xuân Tiến huyện Xuân Trường, Cụm công nghiệp Đồng Côi huyện Nam Trực. Thành lập Cụm công nghiệp Yên Bằng, huyện Ý Yên, Cụm công nghiệp Thanh Côi huyện Vụ Bản, Cụm công nghiệp làng nghề Hải Vân huyện Hải Hậu.

Tổ chức đánh giá, phân tích các nguyên nhân để đề ra các biện pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số cải cách hành chính. Tổ chức Hội nghị gặp mặt, đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, các sở, ngành liên quan với cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư để giải đáp, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và làm rõ những nội dung doanh nghiệp, nhà đầu tư quan tâm.

Hoàn thành hạ tầng kỹ thuật giai đoạn II dự án đầu tư xây dựng Khu đô thị Dệt may. Khai trương, đưa vào hoạt động Khách sạn Nam Cường - Nam Định tại khu đô thị Hòa Vượng, đạt tiêu chuẩn 4 sao quốc tế đầu tiên tại tỉnh Nam Định.

Tập trung thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng và thi công các dự án: Tuyến đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển của tỉnh với đường cao tốc cầu Giẽ - Ninh Bình; khu Trung tâm lễ hội thuộc khu di tích lịch sử văn hóa thời Trần; cải tạo, nâng cấp một số hạng mục quần thể lưu niệm Tổng Bí thư Trường Chinh; Tỉnh lộ 487B, 488B, 485B... Tiếp tục hoàn thiện các thủ tục đầu tư dự án: Tuyến đường bộ ven biển đoạn đi qua tỉnh Nam Định; Bệnh viện đa khoa tỉnh quy mô 700 giường...

4. Hoạt động thương mại, dịch vụ, ngân hàng tiếp tục có chuyển biến tích cực: Xuất khẩu hàng hóa ước đạt 894 triệu USD, tăng 24,9% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 7,5% so với cùng kỳ. Tổng dư nợ tín dụng cho vay tăng 11,4% so với cùng kỳ.

5. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm: Chế độ chính sách được giải quyết kịp thời, an sinh xã hội được đảm bảo. Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2018-2019, đoàn Nam Định đứng thứ 4 toàn quốc về thí sinh đạt giải (75/88 học sinh đạt giải, bằng 85,2%), trong đó có 8 học sinh được tham dự chọn đội tuyển dự thi Olympic quốc tế. Tổ chức tốt kỳ thi Trung học phổ thông quốc gia đảm bảo an toàn, đúng quy chế của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân; chủ động phòng chống dịch bệnh. Công tác quản lý an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản năm 2018 của tỉnh Nam Định xếp ở vị trí cao nhất trong 63 tỉnh, thành phố. Công tác quản lý, tổ chức lễ hội được chấn chỉnh, đảm bảo phát huy tốt truyền thống văn hóa lịch sử và được tổ chức theo đúng quy định.

6. Công tác nội vụ - cải cách hành chính:

- Thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII: Đã sáp nhập, hợp nhất 18 đơn vị sự nghiệp công lập thành 7 đơn vị, giảm 11 đầu mối, 8 lãnh đạo cấp trưởng và giảm 54 biên chế. Hoàn thành Đề án trình Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sắp xếp, hợp nhất 6 trường trung cấp và 1 trường cao đẳng thành Trường Cao đẳng Kinh tế và Công nghệ. Giải thể 2 đơn vị sự nghiệp công lập giảm 11 biên chế, 2 lãnh đạo cấp trưởng. Chuyển 3 đơn vị sự nghiệp công lập sang tự chủ kinh phí chi thường xuyên, giảm 37 biên chế.

- Thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công của tỉnh để giải quyết thủ tục hành chính cho công dân theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông.

- Đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch xây dựng chính quyền điện tử, trong đó triển khai thực hiện ứng dụng chữ ký số chuyên dùng trong các cơ quan hành chính Nhà nước; gửi, nhận văn bản điện tử có ký số trên trục liên thông văn bản quốc gia.

- Tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2018 xếp thứ 35/63 tỉnh, thành phố, tăng 6 bậc so với năm 2017; chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2018 đứng thứ 22/63 tỉnh, thành phố.

7. Đảm bảo quốc phòng, an ninh, nội chính: An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Hoàn thành giao nhận quân năm 2019 đảm bảo công bằng, công khai, đúng luật. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo được quan tâm, chỉ đạo giải quyết.

Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn hạn chế, tồn tại như báo cáo đã nêu cũng như ý kiến thảo luận, tham gia của các vị đại biểu. Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại có nguyên nhân chủ quan, có nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân chủ quan là: Người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa sâu sát, nắm chắc tình hình, thiếu quyết liệt; ý thức trách nhiệm và kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức chưa cao, chưa làm hết trách nhiệm, có nơi, có lúc còn nhũng nhiễu, thái độ ứng xử với nhân dân và doanh nghiệp chưa đúng mực; năng lực nghiên cứu, đề xuất, tham mưu của các sở, ngành chưa đáp ứng yêu cầu; phối hợp xử lý công việc chưa chặt chẽ. Thay mặt UBND tỉnh, tôi xin nghiêm túc tiếp thu và tập trung chỉ đạo, có giải pháp khắc phục những hạn chế, tồn tại trong thời gian tới.

II. CÁC NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG 6 THÁNG CUỐI NĂM 2019

Từ những kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2019. Để hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2019; UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố chủ động, có giải pháp tích cực thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong đó, tập trung vào một số nhiệm vụ sau:

1. Lĩnh vực nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới:

- Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức thành công Hội nghị toàn quốc Tổng kết 10 năm Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 tại Nam Định theo chỉ đạo của Chính phủ.

- Tập trung chỉ đạo quyết liệt thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của tỉnh gắn với xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu theo hướng cơ cấu lại lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế với nhu cầu của thị trường. Xây dựng thêm nhiều liên kết chuỗi giá trị sản phẩm an toàn, nhất là xây dựng các vùng, cơ sở chăn nuôi an toàn dịch bệnh.

- Tiếp tục tập trung các giải pháp thực hiện quyết liệt phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi; thực hiện nghiêm chính sách hỗ trợ cho người chăn nuôi bị thiệt hại theo đúng quy định, đảm bảo công khai, minh bạch, không để xảy ra hiện tượng trục lợi chính sách.

- Kêu gọi các nhà đầu tư, các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nhất là các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch vào sản xuất nông nghiệp và công nghệ chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp.

- Thực hiện tốt công tác phòng, chống thiên tai; chuẩn bị đầy đủ vật tư, phương tiện, có phương án phòng, chống thiên tai trước những diễn biến bất thường của thời tiết và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.

2. Đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm và thành phố trung tâm vùng:

- Hoàn thành điều chỉnh tổng thể quy hoạch chung xây dựng Thành phố Nam Định đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050; quy hoạch chung xây dựng khu chức năng phía Nam đô thị Rạng Đông đến năm 2040... Nghiên cứu lập quy hoạch hai bên đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển của tỉnh với đường cao tốc cầu Giẽ - Ninh Bình. Chuẩn bị các điều kiện nghiên cứu lập Quy hoạch tỉnh theo Luật Quy hoạch và các văn bản hướng dẫn thi hành.

- Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm: Đường trục phát triển nối vùng kinh tế biển của tỉnh với đường cao tốc cầu Giẽ - Nình Bình; Khu trung tâm lễ hội thuộc khu di tích lịch sử - văn hóa thời Trần; dự án cải tạo, nâng cấp một số hạng mục quần thể lưu niệm Tổng Bí thư Trường Chinh; cải tạo, nâng cấp Tỉnh lộ 487B, 485B, 488B; khu đô thị mới phía Nam sông Đào Thành phố Nam Định, Dự án xây dựng đường trục trung tâm phía Nam Thành phố Nam Định...

- Tiếp tục báo cáo các bộ, ngành Trung ương hoàn thành các thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư Dự án xây dựng tuyến đường bộ ven biển đoạn qua tỉnh Nam Định; Hoàn chỉnh các thủ tục để tiếp tục đầu tư Bệnh viện 700 giường để di chuyển Bệnh viện Đa khoa tỉnh ra địa điểm đó.

- Phối hợp với nhà đầu tư hoàn thành các thủ tục sớm khởi công Nhà máy nhiệt điện BOT Nam Định 1 tại huyện Hải Hậu.

- Tiếp tục đề nghị Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải quan tâm sớm đầu tư cầu Ninh Cường bằng vốn dư của cầu Thịnh Long, cầu Bến Mới, cầu Đống Cao bằng nguồn vốn ODA của Hàn Quốc.

- Thành lập các phường Lộc Hòa, Mỹ Xá của Thành phố Nam Định. Tiếp tục kêu gọi, hướng dẫn, phối hợp với nhà đầu tư hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án mang tính điểm nhấn trên địa bàn thành phố.

3. Đẩy mạnh cải cách hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp và thu hút đầu tư:

- Chỉ đạo thực hiện hiệu quả Nghị quyết, Kế hoạch, Chương trình đã ban hành trong việc cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh, xúc tiến và thu hút đầu tư. Tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra để nâng cao chỉ số cải cách hành chính (Par Index) và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Tổ chức gặp gỡ, đối thoại, giải quyết kịp thời các kiến nghị, vướng mắc của doanh nghiệp.

- Triển khai hoạt động của Trung tâm hành chính công tỉnh với sự tham gia của các sở, ngành; đồng thời đẩy mạnh hoạt động của Cổng cung cấp dịch vụ công trực tuyến của tỉnh với nhiều thủ tục ở mức độ 3, 4 giúp người dân, doanh nghiệp được giải quyết thủ tục nhanh chóng, thuận tiện; xác định đây là tiêu chí đánh giá mức độ thi đua hàng năm của các cơ quan, đơn vị.

- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Khu công nghiệp Dệt may Rạng Đông và nhà máy xử lý nước thải, nhà máy cấp nước sạch để thu hút các nhà đầu tư thứ cấp. Tập trung hoàn thiện thủ tục để giải phóng mặt bằng, đầu tư xây dựng Khu công nghiệp Mỹ Thuận; các cụm công nghiệp Yên Bằng huyện Ý Yên, cụm công nghiệp Thanh Côi huyện Vụ Bản, cụm công nghiệp làng nghề Hải Vân huyện Hải Hậu... Tiếp tục kêu gọi xã hội hóa đầu tư các khu, cụm công nghiệp khác theo quy hoạch đã được duyệt. Tổ chức xúc tiến, kêu gọi đầu tư để thu hút các nhà đầu tư thứ cấp đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, nhất là các nhà đầu tư có công nghệ cao, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách.

4. Tài nguyên và Môi trường:

- Tổ chức đánh giá 1 năm thực hiện Kết luận số 43-KL/TU ngày 22-8-2018 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TU ngày 17-7-2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc tăng cường lãnh đạo công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh. Tổ chức rà soát, phân loại các doanh nghiệp, nhà đầu tư không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả để có giải pháp xử lý theo quy định.

- Tăng cường quản lý Nhà nước về môi trường, khai thác khoáng sản. Kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải gây ô nhiễm môi trường, nhất là tại các khu, cụm công nghiệp, làng nghề, các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm. Hoàn thành các thủ tục để khởi công xây dựng nhà máy xử lý rác thải cho Thành phố Nam Định, huyện Mỹ Lộc. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình cấp nước sạch tại các huyện.

5. Tài chính - Ngân sách: Các cấp, các ngành tăng cường các biện pháp quản lý để thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào ngân sách Nhà nước; phấn đấu thu vượt trên 5% dự toán thu ngân sách Nhà nước năm 2019 (trừ các khoản thu từ đất). Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 8-11-2018 của Thủ tướng Chính phủ và chỉ đạo của UBND tỉnh về việc chấn chỉnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong việc chấp hành pháp luật về ngân sách Nhà nước. Tăng cường công tác quản lý tài sản công. Hoàn thành việc sắp xếp ô tô theo Nghị định số 04/2019/NĐ-CP ngày 11-1-2019 của Chính phủ Quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng ô tô, xong trước ngày 1-10-2019.

6. Văn hoá - Xã hội:

- Tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học, giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, tiếng Anh cho học sinh. Tập trung chuẩn bị tốt các điều kiện và khai giảng năm học mới 2019-2020; chấn chỉnh tình trạng dạy thêm, học thêm và các khoản thu ngoài quy định tại các nhà trường, nhất là vào đầu năm học mới. Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc tại Nam Định vào năm 2020.

- Tập trung nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân; đẩy mạnh hoạt động của mạng lưới y tế cơ sở, chăm sóc sức khỏe ban đầu. Chủ động triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh; tăng cường quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường y tế. Thực hiện tốt các giải pháp phát triển bảo hiểm y tế toàn dân.

- Quan tâm, thực hiện tốt các chính sách cho người có công và thân nhân người có công, đảm bảo an sinh xã hội. Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm và nhu cầu của các doanh nghiệp, xuất khẩu lao động.

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” trong giai đoạn mới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các thiết chế văn hóa, nhất là các thiết chế văn hóa ở cơ sở. Quan tâm phát triển thể dục, thể thao quần chúng và các môn thể thao thành tích cao có truyền thống, tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.

7. Công tác Nội vụ, Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo:

- Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ của năm 2019 theo Kế hoạch số 73/KH-UBND ngày 16-7-2018 của UBND tỉnh thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 24-1-2018 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

- Hoàn thành Đề án sắp xếp, sáp nhập các xã không đạt 50% cả 2 tiêu chí về diện tích và dân số theo quy định.

- Tăng cường giáo dục, nâng cao chất lượng của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ, nhất là bộ phận trực tiếp làm việc với người dân, doanh nghiệp. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra thực thi công vụ, kiên quyết xử lý nghiêm cán bộ, công chức vi phạm, gây phiền hà, sách nhiễu.

- Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tập trung giải quyết các vụ việc phát sinh ngay từ cơ sở, các vụ việc phức tạp, kéo dài, đông người.

8. Đảm bảo An ninh - Quốc phòng:

Thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự - quốc phòng địa phương. Tăng cường đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện quyết liệt các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông, nỗ lực kiềm chế, giảm tai nạn giao thông cả ba tiêu chí.

Kính thưa Chủ tọa kỳ họp, thưa các vị đại biểu, thưa toàn thể nhân dân.

Sau khi kết thúc kỳ họp thứ bảy HĐND tỉnh khoá XVIII, với tinh thần cầu thị UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố, đơn vị liên quan xem xét, giải quyết kiến nghị chính đáng của cử tri, các kiến nghị, nội dung chất vấn của đại biểu HĐND tỉnh ở các lĩnh vực và đã gửi tới các đại biểu Báo cáo số 125/BC-UBND, 127/BC-UBND, 128/BC-UBND ngày 7-6-2019 về giải quyết kiến nghị của cử tri, đại biểu HĐND tỉnh tại kỳ họp thứ bảy và các kỳ họp trước. Qua đó có nhiều kiến nghị đã được giải quyết, có kiến nghị đang trong quá trình thực hiện, có kiến nghị cần thời gian và nguồn lực để thực hiện. Thời gian tới UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, UBND các huyện, thành phố tiếp tục xem xét, giải quyết những kiến nghị tại các kỳ họp lần trước đang giải quyết và những kiến nghị tại kỳ họp lần này, nhất là những kiến nghị chính đáng, liên quan đến quyền lợi của người dân, doanh nghiệp.

Kính thưa Chủ tọa kỳ họp, thưa các vị đại biểu, thưa toàn thể nhân dân.

Những vấn đề tôi trình bày ở trên đã bao hàm một số nội dung mà các đại biểu HĐND tỉnh và cử tri quan tâm. Mặt khác các đại biểu HĐND tỉnh cũng nhận được báo cáo giải trình của UBND tỉnh, các sở, ngành và nghe trả lời chất vấn trực tiếp của lãnh đạo UBND tỉnh và các sở, ngành liên quan. Thay mặt UBND tỉnh tôi xin báo cáo, làm rõ một số nội dung mà các đại biểu kiến nghị, chất vấn và các cử tri quan tâm như sau:

1. Về phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi

1.1. Về công tác chỉ đạo phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi

Ngay sau khi có thông tin về bệnh dịch tả lợn châu Phi có nguy cơ xâm nhiễm vào địa bàn tỉnh, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 28/KH-UBND ngày 28-2-2019, Công điện khẩn số 02/CĐ-UBND ngày 1-3-2019 về phòng chống bệnh dịch tả lợn châu Phi. Ngày 8-3-2019 trên địa bàn tỉnh đã phát hiện bệnh dịch tả lợn châu Phi đầu tiên tại 1 hộ chăn nuôi ở xóm 9, xã Trực Thắng, huyện Trực Ninh. Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các sở, ngành có liên quan, UBND các huyện, thành phố thực hiện nghiêm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, của tỉnh, thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng chống dịch bệnh; lập các chốt kiểm dịch trên các tuyến đường tại địa phận giáp ranh với các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình; tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi công tác phòng dịch, vệ sinh chuồng trại, tiêu độc, khử trùng; yêu cầu lực lượng tại các xã, phường, thị trấn thực hiện nghiêm công tác tiêu hủy, đảm bảo vệ sinh môi trường...

UBND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh cùng các sở, ngành có liên quan đã lập các đoàn kiểm tra công tác phòng chống bệnh dịch tả lợn châu Phi tại các huyện, thành phố, các xã, thị trấn. Tuy nhiên, do dịch tả lợn châu Phi chưa có vắc-xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị; vi-rút có khả năng tồn tại lâu ngoài môi trường, đường lây truyền rất đa dạng, khó kiểm soát nên bệnh dịch đã lây lan nhanh ra các xã, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh. Toàn tỉnh đã có 214 xã, phường, thị trấn của 10 huyện, thành phố có phát sinh dịch bệnh. Đến ngày 8-7-2019, đã tổ chức tiêu hủy 240.979 con lợn (chiếm trên 36% tổng đàn), tổng trọng lượng lợn tiêu hủy 13.160 tấn; ước tính kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho người chăn nuôi khoảng 500 tỷ đồng. Đây là đợt dịch có tổng thiệt hại lớn nhất từ trước đến nay.

1.2. Về công tác hỗ trợ cho người chăn nuôi bị thiệt hại bởi bệnh dịch tả lợn châu Phi

Căn cứ Nghị định số 02/2017/NĐ-CP ngày 9-1-2017 của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh; Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 7-3-2019 của Chính phủ về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2 năm 2019 và giá lợn hơi thực tế trên địa bàn tỉnh; UBND tỉnh đã ban hành Quyết định về Quy định chế độ tài chính hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh, như sau:

- Tại Quyết định số 701/QĐ-UBND ngày 3-4-2019, quy định mức hỗ trợ: Đối với lợn con, lợn thịt các loại là 30.000 đồng/kg; đối với lợn nái, lợn đực giống đang khai thác là 45.000 đồng/kg.

- Tại Quyết định số 1131/QĐ-UBND ngày 31-5-2019, quy định mức hỗ trợ áp dụng từ ngày 31-5-2019: Đối với lợn con, lợn thịt các loại là 26.000 đồng/kg; đối với lợn nái, lợn đực giống đang khai thác là 39.000 đồng/kg.

Ngày 27-6-2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 793/QĐ-TTg về cơ chế, chính sách, đối tượng hỗ trợ, mức hỗ trợ kinh phí trong phòng, chống bệnh dịch tả lợn châu Phi. Mức hỗ trợ thống nhất toàn quốc áp dụng từ ngày 27-6-2019: Đối với lợn con, lợn thịt các loại là 25.000 đồng/kg; đối với lợn nái, lợn đực giống đang khai thác là 30.000 đồng/kg.

Do kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho người chăn nuôi có lợn bị tiêu hủy là rất lớn, vượt quá khả năng ngân sách của tỉnh; UBND tỉnh đã có văn bản đề nghị Chính phủ, bộ, ngành Trung ương hỗ trợ kinh phí để tỉnh có nguồn kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho người chăn nuôi có lợn bị tiêu hủy. Ngày 12-6-2019, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 716/QĐ-TTg về việc tạm cấp kinh phí hỗ trợ thiệt hại do bệnh dịch tả lợn châu Phi (Nam Định được cấp 225 tỷ đồng).

Ngày 26-6-2019 và ngày 2, 3-7-2019, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1339/QĐ-UBND và Quyết định số 1374/QĐ-UBND, Quyết định số 1382/QĐ-UBND về tạm cấp kinh phí cho ngân sách các huyện, thành phố: Thành phố Nam Định 1,2 tỷ đồng, Mỹ Lộc 4,2 tỷ đồng, Ý Yên 5 tỷ đồng, Vụ Bản 6 tỷ đồng, Xuân Trường 8,7 tỷ đồng, Nam Trực 12,8 tỷ đồng, Giao Thủy 14,2 tỷ đồng, Nghĩa Hưng 21,6 tỷ đồng, Trực Ninh 27 tỷ đồng, Hải Hậu 48,8 tỷ đồng để hỗ trợ thiệt hại do bệnh dịch tả lợn châu Phi. Yêu cầu các huyện và thành phố Nam Định tổ chức thực hiện việc hỗ trợ theo đúng đối tượng, đúng chế độ chính sách.

UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thành phố tiếp tục chỉ đạo các xã, phường, thị trấn khẩn trương lập hồ sơ hỗ trợ cho người chăn nuôi có lợn bị tiêu hủy do bệnh dịch tả lợn châu Phi; công khai hồ sơ tại các thôn, xóm, tổ dân phố, tại trụ sở UBND xã, phường, thị trấn để nhân dân biết, giám sát, đảm bảo việc hỗ trợ đúng đối tượng, đúng chế độ chính sách, không để xảy ra hiện tượng trục lợi chính sách, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Thời gian tới, trên cơ sở hỗ trợ kinh phí của Trung ương, dự phòng ngân sách của tỉnh, huyện, xã và hồ sơ của các huyện, thành phố, UBND tỉnh cấp kinh phí cho các huyện, thành phố để hỗ trợ trực tiếp cho người chăn nuôi bị thiệt hại bởi bệnh dịch tả lợn châu Phi, đảm bảo các hộ chăn nuôi bị thiệt hại bởi dịch bệnh đều được Nhà nước hỗ trợ theo đúng quy định.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn căn cứ hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và tình hình thực tế ở địa phương để hướng dẫn người chăn nuôi ở các huyện, thành phố trong việc tái phát triển đàn lợn.

2. Về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế

2.1. Về Bảo hiểm xã hội của công nhân lao động trong các doanh nghiệp:

Trong những năm qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban quản lý các khu công nghiệp và các đơn vị có liên quan tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cho công nhân lao động, doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động thông qua các hội nghị tuyên truyền, gặp gỡ, đối thoại với doanh nghiệp, công nhân lao động, trên Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Báo Nam Định... để công nhân lao động hiểu rõ về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH, trách nhiệm của doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động thực hiện đóng BHXH cho công nhân lao động. Tuy nhiên, qua báo cáo của ngành BHXH, phản ánh của công nhân lao động cho thấy tình hình nợ đọng BHXH của một số đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân lao động. Nhằm chấn chỉnh, khắc phục tình hình trên; UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành có liên quan tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

- Ngành BHXH cùng các sở, ngành có liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn các đơn vị, doanh nghiệp, công nhân lao động tham gia BHXH; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đối với công nhân lao động. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật đối với các đơn vị, doanh nghiệp cố tình trốn đóng, chậm đóng, nợ đọng BHXH. Công khai danh sách đơn vị, doanh nghiệp nợ đọng BHXH của công nhân lao động từ 3 tháng trở lên trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chuyển cơ quan điều tra đối với các doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng pháp luật về BHXH theo quy định.

- Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban quản lý các khu công nghiệp tăng cường công tác quản lý Nhà nước về lao động; thường xuyên theo dõi, nắm tình hình việc chấp hành pháp luật về BHXH của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong và ngoài các khu công nghiệp; yêu cầu các doanh nghiệp chấp hành nghiêm pháp luật về BHXH, thực hiện trích nộp đầy đủ, kịp thời BHXH, BHYT, BHTN cho công nhân lao động.

- Đề nghị Liên đoàn Lao động tỉnh: Chỉ đạo công đoàn các cấp tăng cường công tác giám sát việc chấp hành pháp luật tại các doanh nghiệp, nhất là pháp luật về lao động, tiền lương, BHXH; thực hiện việc khởi kiện ra Tòa án đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công nhân lao động; phối hợp với các sở, ngành có liên quan trong thanh tra, kiểm tra tại các đơn vị, doanh nghiệp nợ đọng BHXH.

- Yêu cầu các doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động chấp hành nghiêm pháp luật về BHXH; có trách nhiệm trích nộp đầy đủ, kịp thời BHXH, BHYT, BHTN cho công nhân lao động theo quy định. Đối với đơn vị, doanh nghiệp còn nợ đọng BHXH, có kế hoạch thực hiện việc chuyển trả số tiền nợ BHXH; chấm dứt tình trạng chây ỳ, để nợ kéo dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của công nhân lao động và tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.

2.2. Về vấn đề Bảo hiểm y tế:

Với mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ bao phủ BHYT trên địa bàn tỉnh đạt 91% dân số trở lên; trong thời gian qua UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành Y tế, ngành BHXH và các đơn vị liên quan, các huyện, thành phố thực hiện tốt cơ chế hỗ trợ mua thẻ BHYT cho các đối tượng theo quy định, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu rõ lợi ích của việc mua thẻ BHYT, tránh việc tốn kém kinh phí, khó khăn trong khám, chữa bệnh do không có thẻ BHYT. Tuy nhiên, đến hết tháng 6-2019 tỷ lệ tham gia BHYT trên địa bàn tỉnh đạt 85% dân số, có huyện chỉ đạt 80% dân số. Có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là sự chủ quan của chính người dân và sự vào cuộc chưa tích cực của chính quyền, đoàn thể các cấp.

Để nâng mức bao phủ BHYT theo Nghị quyết của HĐND tỉnh, Chính phủ giao; yêu cầu các các cấp, các ngành tập trung triển khai tốt một số nhiệm vụ sau:

- Ngành Y tế, ngành BHXH, UBND các huyện, thành phố tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu rõ việc tham gia BHYT; phổ biến để nhân dân biết về cơ chế hỗ trợ cho từng đối tượng theo quy định và việc hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước là 50% cho các hộ nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức thu nhập trung bình để mua thẻ BHYT.

- Các huyện, thành phố, các xã, phường, thị trấn tiếp tục tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát triển BHYT; giao chỉ tiêu cụ thể cho từng đơn vị triển khai thực hiện, kiểm điểm theo tháng. Tiếp tục nâng cao các tiêu chí nông thôn mới bền vững, nông thôn mới kiểu mẫu, trong đó có tiêu chí về BHYT.

- Ngành BHXH chủ động đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, cấp, cấp đổi, thanh toán thẻ BHYT được thuận tiện, kịp thời cho nhân dân; xử lý nghiêm các trường hợp gây phiền hà, nhũng nhiễu, chậm thực hiện, gây khó khăn cho nhân dân tham gia BHYT.

- Đề nghị Mặt trận Tổ quốc các cấp, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia BHYT để đảm bảo quyền lợi, chế độ, chính sách về công tác khám, chữa bệnh.

3. Về nước sạch nông thôn

Mục tiêu của tỉnh ta là đến năm 2020 tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đạt trên 95%, đây là chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh chất lượng đời sống của nhân dân trong khu vực nông thôn. Trong thời gian qua, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành liên quan, các huyện đẩy mạnh công tác xã hội hóa, thu hút đầu tư các công trình cung cấp nước sạch tập trung nông thôn; tạo điều kiện tối đa theo quy định để các nhà đầu tư sớm khởi công dự án, đẩy nhanh tiến độ xây dựng để nhân dân sớm được sử dụng nguồn nước sạch. Tuy nhiên, đến hết tháng 6-2019 mới có 65,1% dân số nông thôn sử dụng nước sạch; một số huyện tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch đạt thấp như: Nghĩa Hưng, Hải Hậu, Trực Ninh... Trong thời gian tới, UBND tỉnh yêu cầu:

- Đối với các công trình cấp nước sạch nông thôn đang vận hành khai thác: Yêu cầu các công ty cung cấp nước sạch đảm bảo việc xử lý, cung cấp nước sạch cho nhân dân đạt tiêu chuẩn theo quy định; công khai các thông tin liên quan đến chất lượng nước sạch; tạo điều kiện thuận lợi để các hộ dân được đấu nối với hệ thống cung cấp nước sạch; phối hợp với chính quyền địa phương tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân sử dụng nước sạch để đảm bảo sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống.

- Đối với các dự án cung cấp nước sạch đang thi công xây dựng và các dự án đang hoàn thiện thủ tục: Yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các sở, ngành, UBND các huyện có liên quan thường xuyên theo dõi, đôn đốc các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công, sớm đưa nước sạch đạt tiêu chuẩn vào phục vụ nhân dân; tạo mọi điều kiện cho nhà đầu tư hoàn thiện các thủ tục, thực hiện nhanh công tác giải phóng mặt bằng để đầu tư xây dựng nhà máy nước sạch. Yêu cầu các chủ đầu tư phải đưa công nghệ hiện đại vào xử lý nước sạch, đảm bảo nguồn nước thô phải được lấy từ các sông lớn nhằm cung cấp nước sạch đạt tiêu chuẩn theo quy định.

- UBND các huyện căn cứ Văn bản số 492/UBND-VP3 ngày 28-6-2019 về giao chỉ tiêu tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung cho các địa phương năm 2019, chỉ đạo các xã, thị trấn tập trung triển khai thực hiện; kiểm điểm tiến độ theo từng tháng.

- Sở Y tế chủ trì, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các sở, ngành liên quan:

+ Tăng cường kiểm tra, lấy mẫu, phân tích chất lượng nước sạch của các nhà máy nước sạch; kiên quyết xử lý, yêu cầu khắc phục ngay đối với các nhà máy cung cấp nước sạch không đạt tiêu chuẩn theo quy định.

+ Kiểm tra, lấy mẫu, phân tích chất lượng nước ngầm, nước mặt ở các xã, thị trấn và công bố các chỉ số trên phương tiện thông tin đại chúng, tại khu dân cư để nhân dân có sự lựa chọn nguồn nước có chất lượng phục vụ sinh hoạt.

- Đề nghị các huyện ủy, UBND các huyện, nhất là các huyện phía nam đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân sử dụng nước sạch để nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh do sử dụng nguồn nước không được kiểm soát, không rõ về chất lượng.

- Đề nghị Mặt trận Tổ quốc các cấp, các đoàn thể chính trị - xã hội tuyên truyền, vận động nhân dân, hội viên về lợi ích trong việc sử dụng nước sạch bảo đảm chất lượng đối với sức khỏe cộng đồng và tình hình ô nhiễm nước ngầm, nước mặt đang có chiều hướng gia tăng để nhân dân biết, tích cực sử dụng nước sạch.

Kính thưa Chủ tọa kỳ họp, thưa các vị đại biểu, thưa toàn thể nhân dân.

Thay mặt UBND tỉnh, một lần nữa tôi xin cảm ơn sự quan tâm của các vị đại biểu HĐND tỉnh và cử tri toàn tỉnh. Đồng thời, yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố và các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm các Nghị quyết của kỳ họp thứ chín, HĐND tỉnh khoá XVIII đã đề ra và nghiêm túc tiếp thu, tập trung giải quyết những kiến nghị của đại biểu HĐND tỉnh, ý kiến, kiến nghị của cử tri đã nêu có liên quan đến ngành mình, địa phương mình.

Để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đề ra, ngoài sự cố gắng của UBND tỉnh, các sở, ban, ngành, của các cấp chính quyền; UBND tỉnh mong muốn tiếp tục nhận được sự lãnh đạo thường xuyên của Tỉnh uỷ, giám sát của HĐND tỉnh, các đại biểu HĐND tỉnh; sự phối hợp của các ban, cơ quan của Đảng, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp và đặc biệt là sự giám sát, ủng hộ của cử tri và nhân dân trong tỉnh để UBND tỉnh thực hiện tốt nhiệm vụ; phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các mục tiêu, chỉ tiêu năm 2019, tiến tới thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XIX nhiệm kỳ 2015-2020.

Cuối cùng kính chúc các đồng chí, các vị đại biểu, cùng toàn thể nhân dân sức khỏe, hạnh phúc và thành công.

Xin trân trọng cảm ơn!

,
,
.
,
,
,
,