LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH (1975-2005)
Tập trung lãnh đạo đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong những năm đầu thế kỷ XXI (2001-2005) - Kỳ 7
Cập nhật lúc05:09, Thứ Ba, 23/05/2017 (GMT+7)

(Tiếp theo)

    Để đánh giá kết quả sau 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, động viên và giúp Đảng bộ Nam Định tháo gỡ khó khăn, phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, từ ngày 10 đến ngày 15-2-2004, đồng chí Phan Văn Khải - ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã về thăm Đảng bộ và nhân dân Nam Định. Thủ tướng và đoàn công tác Chính phủ đã làm việc với Tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành và một số huyện trong tỉnh. Sau khi nghe lãnh đạo tỉnh báo cáo về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2003, chỉ tiêu, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2004 của tỉnh, qua khảo sát và làm việc với một số sở, ban, ngành và huyện, Thủ tướng Phan Văn Khải kết luận: sau 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có bước phát triển, kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư, đã hình thành các khu công nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tích cực. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của năm 2003 đều đạt và vượt kế hoạch, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, nhìn chung Nam Định vẫn còn là tỉnh nghèo, tỉ trọng nông nghiệp còn cao, tốc độ tăng trưởng còn chậm so với các tỉnh trong vùng; mức đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển; đời sống của nhân dân ổn định nhưng mức thu nhập của người dân còn thấp; một số chỉ tiêu bình quân đầu người còn thấp so với bình quân của cả nước. Thủ tướng yêu cầu Đảng bộ và nhân dân Nam Định cần tiếp tục phấn đấu quyết liệt, tìm ra các giải pháp thiết thực nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của tỉnh để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong hai năm còn lại của kế hoạch 5 năm (2001-2005). về một số đề nghị của tỉnh, Thủ tướng có ý kiến như sau:

    Đồng ý việc tập trung hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển thành phố Nam Định; giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng phối hợp với các bộ, ngành có liên quan giúp tỉnh Nam Định xây dựng quy hoạch và hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với tầm nhìn đến năm 2010 và xa hơn nữa...

    Đồng ý để tỉnh Nam Định tiếp tục triển khai xây dựng Khu công nghiệp Mỹ Trung gắn với Khu đô thị mới Mỹ Trung; nếu các khu công nghiệp của tỉnh đã lấp đầy trên 70% diện tích và có hiệu quả thì đồng ý tiếp tục mở rộng các khu công nghiệp mới...

    Về đầu tư cơ sở hạ tầng, đồng ý cho phép triển khai dự án đầu tư tuyến đường tránh thành phố Nam Định nối quốc lộ 10 với quốc lộ 21 qua sông Đào; cải tạo, nâng cấp đoạn nối quốc lộ 10 (km 123 + 450 thị trấn Gôi) với quốc lộ 21 (km 136 + 600 huyện Mỹ Lộc) bằng nguồn vốn dự án quốc lộ 10; dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 21 Nam Định - Thịnh Long theo quy hoạch đường cấp 3 đồng bằng thuộc chương trình WB4 năm thứ nhất...

Đồng ý về nguyên tắc việc thành lập Trung tâm truyền hình VTV2, song phải bảo đảm yêu cầu về nội dung, chất lượng, chương trình phong phú, đội ngũ phóng viên phải có trình độ và phẩm chất tốt...

    Để giảm bớt khó khăn cho người chăn nuôi gia cầm, tỉnh cần chủ động hỗ trợ từ ngân sách địa phương, đồng thời phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có chính sách hỗ trợ người chăn nuôi gia cầm phục hồi và phát triển đàn gia cầm ngay sau khi khống chế, dập dịch có hiệu quả.

    Chuyến thăm và làm việc của Thủ tướng Phan Văn Khải là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với Đảng bộ và nhân dân Nam Định, góp phần quan trọng vào việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để Đảng bộ và nhân dân Nam Định tiếp tục phấn đấu xây dựng Nam Định thành tỉnh giàu mạnh, văn minh.

    Sau 5 năm (2001-2005) tổ chức triển khai thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành công nghiệp của tỉnh đã đạt kết quả quan trọng, giá trị sản xuất công nghiệp liên tục tăng qua các năm. Tốc độ tăng bình quân trong 5 năm là 20,4%/năm, vượt 7,6% so với chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đề ra; trong đó công nghiệp địa phương tăng bình quân 23,4%/năm, công nghiệp trung ương tăng bình quân 13,2%/năm. Riêng ngành công nghiệp cơ khí tăng 28%/năm. Khu công nghiệp Hoà Xá đã cơ bản giao xong mặt bằng 327 ha, có 55/71 doanh nghiệp đi vào sản xuất kinh doanh; 15 cụm công nghiệp - làng nghề các huyện và thành phố Nam Định được triển khai xây dựng, nhiều cụm đi vào hoạt động có hiệu quả. Năm 2005, tỉnh đã hoàn thành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, là một trong những tỉnh tiến hành nhanh, hiệu quả so với cả nước.

    Công nghiệp ngoài quốc doanh có bước phát triển khá, các doanh nghiệp đều tích cực phát huy mọi nguồn lực chủ động nghiên cứu thị trường, đẩy mạnh đầu tư phát triển; nâng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh lên gần 60% trong giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Đến năm 2005, toàn tỉnh có 87 làng nghề, trong đó có 29 làng nghề truyền thống với tổng số lao động tham gia sản xuất khoảng 73.000 người, giá trị sản xuất năm 2005 đạt 1.864 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần năm 2000. Một số làng nghề có tốc độ phát triển khá như: Xuân Tiến (Xuân Trường); Vân Chàng, Nam Hồng, Nam Thanh (Nam Trực); Tống Xá (Yên Xá), Cát Đằng (Yên Tiến), La Xuyên (Yên Ninh) thuộc huyện Ý Yên... Từ năm 2001 đến 2005, trong các làng nghề đã thành lập 93 công ty trách nhiệm hữu hạn, 72 doanh nghiệp tư nhân, 8 công ty cổ phần và 20 hợp tác xã; tăng 7,5 lần so với năm 2000. Những doanh nghiệp mới ra đời ở các làng nghề đã trở thành hạt nhân trong việc tìm kiếm thị trường, đầu tư mở rộng sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật; tích cực đặt hàng gia công cho các hộ gia đình, tạo công ăn việc làm cho người lao động nông thôn. Nhiều làng nghề được mở rộng, phát triển nghề mới, thu hút hàng nghìn lao động, nhất là các làng nghề: cơ khí, dệt may, mây tre đan, hàng mộc mỹ nghệ, tre cuốn, sơn mài... Toàn tỉnh có 40 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, vốn điều lệ 37 tỷ đồng, thu hút trên 1.000 lao động. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn do quy mô sản xuất nhỏ, thiếu vốn sản xuất và khó khăn về thị trường, nhưng các hợp tác xã vẫn duy trì sản xuất, một số hợp tác xã làm ăn khá như: Hợp tác xã cơ khí hoá chất Toàn Thắng (thành phố Nam Định), Hợp tác xã cơ khí Đồng Sơn (Nam Trực), Hợp tác xã chiếu cói xuất khẩu (Xuân Trường)... Một số hợp tác xã vận tải đã đầu tư đóng mới phương tiện vận chuyển, phục vụ cho đi lại và sản xuất.

 (còn nữa)

,
,
.
,
,
,
,